BaoLoc.orgBảo Lộc
Con người và lễ hội

Người Mạ ở Bảo Lộc: cư dân bản địa của cao nguyên, bon làng và tiếng nói

Người Mạ là cư dân bản địa lâu đời của vùng Bảo Lộc. Họ là ai, sống thế nào trong bon làng xưa, tiếng nói thuộc nhóm nào và đời sống hôm nay ra sao.

Wooden stilt longhouse at the edge of a coffee garden on red soil, a woman seen from behind carrying a woven bamboo back basket, misty morning hills

Người Mạ là một trong những cư dân bản địa lâu đời nhất của vùng đất nay là bốn phường 1 Bảo Lộc, 2 Bảo Lộc, 3 Bảo Lộc và B'Lao. Trước khi có đồn điền chè của người Pháp, trước các đợt di dân từ miền Trung, miền Bắc, các bon làng người Mạ đã sống dọc những dải rừng, suối trên cao nguyên này và ở cả lưu vực sông Đồng Nai phía dưới.

Bài này giới thiệu người Mạ từ góc một người muốn hiểu vùng đất mình đang sống hoặc ghé qua: họ thuộc nhóm ngôn ngữ nào, bon làng xưa tổ chức ra sao, những nét văn hoá nào còn thấy được, và đời sống hôm nay đã đổi khác thế nào. Số liệu dân số và tên nhóm nhỏ dưới đây lấy theo cách các tài liệu dân tộc học Việt Nam thường nêu; chỗ nào còn khác nhau giữa các nguồn, bài ghi rõ.

Người Mạ là ai và sống ở đâu

Người Mạ là một trong 54 dân tộc được công nhận ở Việt Nam. Theo các cuộc tổng điều tra dân số gần đây, cộng đồng Mạ có quy mô khoảng năm mươi nghìn người, phần lớn sống ở Lâm Đồng, rải rác thêm ở vùng Đắk Nông cũ và Đồng Nai. Trong tỉnh Lâm Đồng cũ, các bon Mạ tập trung ở dải phía nam: quanh Bảo Lộc, Bảo Lâm, Di Linh, xuống tới Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên dọc sông Đồng Nai. Nói cách khác, vùng Bảo Lộc nằm ngay giữa không gian sinh sống truyền thống của người Mạ.

Các tài liệu dân tộc học thường chia người Mạ thành vài nhóm địa phương, hay được nhắc là Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô và Mạ Krung, khác nhau đôi chút về giọng nói, nơi cư trú và một số tập quán. Không có ranh giới rõ ràng kiểu bản đồ hành chính giữa các nhóm này, và người Mạ hôm nay cũng ít khi tự giới thiệu theo nhóm nhỏ với người ngoài. Người lạ đến chỉ cần biết đó là những cách gọi có trong sách vở, không nên dùng để phân loại người mình gặp.

Ở Bảo Lộc, người Mạ không còn sống thành vùng riêng như xưa. Các thôn, tổ dân phố có đông đồng bào nằm xen với khu dân cư người Kinh, nhất là ở vùng ven của các xã cũ trước khi nhập vào phường. Từ ngày 1/7/2025, những nơi ấy thuộc bốn phường mới, nhưng trong lời ăn tiếng nói, người địa phương vẫn quen gọi theo tên thôn, tên bon cũ.

Tiếng Mạ và họ hàng ngôn ngữ

Tiếng Mạ thuộc nhánh Môn – Khmer trong ngữ hệ Nam Á, cùng nhóm ngôn ngữ Ba Na nam với tiếng K'Ho, tiếng M'Nông, tiếng S'tiêng, tiếng Chơ Ro. Vì vậy người Mạ và người K'Ho ở quanh Bảo Lộc, Di Linh có thể nghe hiểu nhau ở mức nhất định, nhiều từ chỉ đồ vật, cây cối, quan hệ họ hàng giống hoặc gần giống nhau. Điều này cũng giải thích vì sao nhiều địa danh trên cao nguyên phía nam Lâm Đồng nghe na ná nhau, có những âm đầu như B', Đ', K' mà tiếng Việt không có.

Tên B'Lao của phường B'Lao, cũng là cái tên người Pháp ghi lại cho vùng này, thường được giải thích là bắt nguồn từ tiếng bản địa. Cách giải nghĩa cụ thể thì có nhiều dị bản; ở đây chỉ nêu rằng đó là một cái tên có gốc từ tiếng của cư dân bản địa, còn câu chuyện tên gọi thuộc phần lịch sử của trang.

Ngày nay, đa số người Mạ trẻ nói thạo tiếng Việt, nhiều người chỉ nói tiếng mẹ đẻ trong nhà và với người lớn tuổi. Chữ viết tiếng Mạ dùng hệ chữ cái La-tinh, từng được dạy thử nghiệm trong một số trường tiểu học ở vùng đông đồng bào và được dùng trong một số ấn phẩm địa phương. Như mọi tiếng nói của cộng đồng nhỏ, tiếng Mạ đứng trước nguy cơ mai một khi lớp trẻ học và làm việc chủ yếu bằng tiếng Việt; người già trong bon thường là nơi giữ vốn từ cổ, bài hát, lời kể.

Bon làng và ngôi nhà dài ngày trước

Đơn vị cư trú truyền thống của người Mạ là bon, gần giống khái niệm buôn của người Ê Đê hay plei của người Gia Rai. Mỗi bon thường dựa vào nguồn nước, có rẫy xung quanh, có rừng thiêng hay rừng của làng được giữ gìn, không chặt phá tuỳ tiện. Người đứng đầu bon là một già làng có uy tín, giải quyết việc chung theo luật tục, cùng các bậc cao niên.

Nhà truyền thống của người Mạ là nhà sàn dài, sàn thường không cao như nhà sàn của nhiều dân tộc ở Tây Nguyên phía bắc, mái lợp tranh, vách đan tre nứa. Một ngôi nhà dài có thể chứa nhiều gia đình nhỏ có quan hệ họ hàng, mỗi gia đình một bếp lửa riêng dọc theo chiều dài nhà. Bếp lửa là trung tâm sinh hoạt: nấu ăn, sưởi ấm trong những đêm lạnh của cao nguyên, hong khô hạt giống và nơi người già kể chuyện.

Ở Bảo Lộc hôm nay, gần như không còn bon nào giữ nguyên kiểu nhà dài. Phần lớn gia đình đồng bào đã ở nhà xây hoặc nhà gỗ một gia đình như người Kinh, có khi kèm một gian bếp riêng. Muốn thấy dáng nhà dài, người ta thường phải tìm trong các không gian trưng bày văn hoá hoặc ở những bon xa trung tâm hơn ở vùng lân cận. Việc này không có nghĩa văn hoá Mạ đã mất; nó chỉ đổi chỗ, từ kiến trúc sang những thứ khác như lễ, chiêng, dệt, ăn uống và quan hệ họ hàng.

Rẫy, rừng và nghề thủ công

Kinh tế truyền thống của người Mạ dựa vào rẫy: phát rừng, đốt, chọc lỗ tra hạt lúa, bắp, rồi luân chuyển sang khoảnh khác khi đất bạc màu, để rừng tái sinh. Bên cạnh rẫy là săn bắt, đánh cá ở suối, hái rau rừng, măng, nấm. Chu kỳ rẫy gắn với chu kỳ lễ nghi trong năm, nên muốn hiểu các lễ của người Mạ thì phải nhớ rằng đó trước hết là lịch của người làm rẫy.

Người Mạ nổi tiếng về nghề dệt vải. Phụ nữ dệt bằng khung dệt căng ngang lưng, tạo những tấm vải có nền sẫm, hoa văn sọc và hình hình học, có nơi đính hạt cườm. Đàn ông đan gùi, nong, nia, giỏ đựng đồ từ mây tre với nhiều kiểu đan cầu kỳ. Hai nghề này còn tồn tại, dù ít người trẻ theo; trang có bài riêng về dệt thổ cẩm Mạ.

Từ nửa sau thế kỷ XX, đặc biệt sau năm 1975, nghề rẫy truyền thống gần như chấm dứt ở vùng Bảo Lộc vì đất được quy hoạch thành vườn chè, cà phê, rồi dâu và sầu riêng. Nhiều gia đình người Mạ chuyển sang trồng cà phê, chè trên phần đất của mình, đi làm thuê theo mùa hái chè, hái cà phê, hoặc làm công nhân, buôn bán nhỏ. Sự chuyển đổi này nhanh và không phải ai cũng theo kịp; các chương trình hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở, học bổng cho học sinh đồng bào ở Lâm Đồng xuất phát từ thực tế đó.

Quan hệ gia đình và luật tục

Họ hàng là mạng lưới chính. Trong bon xưa, quan hệ họ hàng quyết định nhiều việc: ai giúp ai khi làm nhà, phát rẫy, ai đứng ra khi có tang, cưới. Các tài liệu dân tộc học thường mô tả người Mạ theo nếp phụ hệ, khác người K'Ho láng giềng vốn theo nếp mẫu hệ, nhưng trong thực tế mỗi vùng, mỗi gia đình có điều chỉnh riêng, và luật hôn nhân hiện hành đã thay đổi nhiều tập quán.

Hôn nhân và sính lễ. Ngày trước, đám cưới thường kèm sính lễ bằng ché, chiêng, trâu, heo, có khi trả dần nhiều năm. Hôm nay phần lớn các cặp đôi đăng ký kết hôn như mọi công dân, lễ cưới pha trộn giữa nghi thức truyền thống, nghi thức của cộng đồng tôn giáo mà gia đình theo và tiệc kiểu phố thị.

Luật tục và già làng. Luật tục Mạ là hệ thống lời răn truyền miệng về đất đai, rừng, hôn nhân, xử phạt khi có lỗi. Già làng vẫn có tiếng nói trong hoà giải ở thôn, bên cạnh tổ hoà giải và chính quyền phường. Người ngoài làm việc với cộng đồng, như dự án, nghiên cứu, du lịch, nên gặp già làng và trưởng thôn trước, đó là phép lịch sự tối thiểu.

Đức tin. Người Mạ truyền thống tin có các vị thần (thường gọi chung là Yàng) ở núi, rừng, suối, lúa. Ngày nay một bộ phận lớn đồng bào theo Công giáo hoặc Tin Lành, nhiều nghi lễ cổ chỉ còn được tái hiện trong các ngày hội văn hoá. Đây là chuyện riêng của mỗi gia đình; người ngoài không nên hỏi dò hay so sánh.

Người Mạ trong đời sống Bảo Lộc hôm nay

Bạn sẽ gặp người Mạ ở chợ Bảo Lộc buổi sáng bán rau rừng, măng, chuối, ở các vườn chè, vườn cà phê mùa thu hoạch, ở trường học, bệnh viện, trong các đội văn nghệ cồng chiêng của phường. Nhiều người trẻ Mạ học đại học ở Đà Lạt, TP.HCM rồi về làm giáo viên, cán bộ, y tá. Cũng có những gia đình còn khó khăn, thiếu đất sản xuất, con cái bỏ học sớm để đi làm. Cả hai bức tranh đều có thật, và không nên dùng một bức tranh để nói thay cho tất cả.

Điều người mới đến Bảo Lộc hay nhận thấy là đồng bào khá kín đáo với người lạ nhưng thân thiện khi đã quen. Nhiều người đi chợ, đi lễ với trang phục bình thường như người Kinh, chỉ mặc trang phục truyền thống trong dịp lễ, ngày hội. Việc chụp ảnh người mặc trang phục truyền thống ở chợ, ở nhà thờ mà không hỏi là điều nhiều người không thích.

Nếu muốn tìm hiểu sâu hơn, những dịp tốt nhất là các ngày hội văn hoá dân tộc của địa phương, các buổi diễn cồng chiêng, hoặc thông qua người quen trong cộng đồng. Bảo tàng Lâm Đồng ở Đà Lạt có phần trưng bày về các dân tộc bản địa của tỉnh, trong đó có người Mạ, là nơi xem hiện vật và đọc giới thiệu có hệ thống trước khi đi thực địa.

Những hiểu lầm thường gặp về người Mạ

Hiểu lầm thứ nhất là coi người Mạ như một phần của người K'Ho hoặc gọi chung là người Thượng. Người Mạ là một dân tộc riêng, có tiếng nói, trang phục, hoa văn, luật tục riêng. Gọi đúng tên là bước đầu của sự tôn trọng.

Hiểu lầm thứ hai là cho rằng đồng bào ở Bảo Lộc vẫn sống du canh trong rừng. Thực tế đa số đã định cư nhiều thập kỷ, có vườn chè, vườn cà phê, con đi học, dùng điện thoại, xe máy như mọi người. Những hình ảnh nhà sàn, khố váy trong các ngày hội là trang phục lễ, không phải đời thường.

Hiểu lầm thứ ba là nghĩ rằng văn hoá Mạ chỉ còn là tiết mục biểu diễn. Phía sau sân khấu vẫn có những gia đình dạy con tiếng mẹ đẻ, những người mẹ dệt vải cho con gái đi lấy chồng, những già làng được mời hoà giải. Những thứ đó không lên sân khấu nhưng mới là chỗ văn hoá đang sống.

Câu hỏi thường gặp

Người Mạ và người K'Ho có phải là một dân tộc không?

Không. Đó là hai dân tộc riêng trong danh mục 54 dân tộc Việt Nam, cùng nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer nên tiếng nói gần nhau và sống xen nhau ở phía nam Lâm Đồng. Tập quán gia đình, trang phục, hoa văn dệt và một số lễ có điểm khác, nên không nên gọi lẫn tên.

Ở Bảo Lộc còn bon người Mạ giữ nhà dài không?

Trong phạm vi bốn phường Bảo Lộc hiện nay, gần như không còn nhà dài truyền thống được ở thường xuyên. Phần lớn gia đình đã ở nhà một hộ. Muốn xem kiến trúc nhà dài, bạn nên tìm ở các không gian trưng bày văn hoá hoặc hỏi người địa phương về những bon xa trung tâm ở vùng lân cận.

Có thể học tiếng Mạ ở đâu?

Không có lớp tiếng Mạ mở thường xuyên cho người ngoài. Một số trường ở vùng đông đồng bào từng dạy tiếng Mạ cho học sinh, và có tài liệu song ngữ do địa phương biên soạn. Cách thực tế nhất là học qua người quen trong cộng đồng, bắt đầu từ lời chào, tên đồ vật, con số.

Mua đồ dệt, đồ đan của người Mạ ở Bảo Lộc được không?

Có thể, nhưng không có điểm bán cố định nào để giới thiệu chắc chắn. Đồ dệt thủ công thật tốn nhiều công, nên hỏi rõ ai dệt, dệt bằng khung gì, sợi gì. Hàng dệt máy in hoa văn dân tộc bán khá nhiều ở các điểm du lịch, không phải đồ của người Mạ làm.

Người Mạ có lễ hội nào người ngoài có thể dự?

Các lễ trong gia đình, dòng họ thường là việc riêng, chỉ dự khi được mời. Dễ tiếp cận hơn là các ngày hội văn hoá, thể thao các dân tộc do địa phương tổ chức, nơi có diễn cồng chiêng, trình diễn dệt, ẩm thực. Lịch tổ chức thay đổi theo năm, nên theo dõi thông báo của phường.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.