BaoLoc.orgBảo Lộc
Con người và lễ hội

Bảo Lộc có những dân tộc nào: người Kinh, Mạ, K'Ho và các cộng đồng đến sau

Bức tranh các dân tộc ở vùng Bảo Lộc: người Mạ, K'Ho bản địa, người Kinh chiếm đa số, đồng bào phía Bắc vào sau 1975, người Hoa và cách các cộng đồng sống xen.

Morning market street in a small highland town, mixed crowd seen from behind with baskets of vegetables and bamboo shoots, light mist, tea hills in the distance

Vùng Bảo Lộc (nay là bốn phường 1 Bảo Lộc, 2 Bảo Lộc, 3 Bảo Lộc và B'Lao) có người Kinh chiếm đa số, cùng cư dân bản địa là người Mạ và người K'Ho, cộng thêm một số dân tộc từ phía Bắc vào lập nghiệp sau năm 1975 và một cộng đồng người Hoa nhỏ. Thành phần dân cư này hình thành qua nhiều lớp di dân trong khoảng một thế kỷ.

Biết vùng đất mình sống có những ai không chỉ là chuyện tò mò. Nó giải thích vì sao trong cùng một con hẻm có nhà nói giọng Huế, nhà nói giọng Nam Định, vì sao có thôn vang tiếng chiêng ngày lễ, vì sao chợ sáng có món này món kia. Bài này đi qua từng cộng đồng, kèm lưu ý về cách nói và cách nhìn cho đúng mực.

Người bản địa: Mạ và K'Ho

Hai dân tộc có mặt lâu đời nhất trên cao nguyên Bảo Lộc – Di Linh là người Mạ và người K'Ho. Cả hai cùng nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, sống bằng rẫy, săn bắt, hái lượm trước khi có đồn điền. Người Mạ đông hơn ở phía Bảo Lộc, Bảo Lâm và xuống lưu vực sông Đồng Nai; người K'Ho đông hơn ở Di Linh, Đức Trọng, Lâm Hà và quanh Đà Lạt. Vùng Bảo Lộc là chỗ hai không gian ấy gặp nhau, nên có thôn chủ yếu người Mạ, có nơi có người K'Ho, có gia đình hai bên lấy nhau.

Người K'Ho lại chia thành nhiều nhóm địa phương mà sách vở hay nhắc: K'Ho Srê làm ruộng nước ở vùng thung lũng Di Linh, K'Ho Lạch và K'Ho Chil ở quanh Đà Lạt, Lạc Dương, cùng các nhóm khác. Điểm khác dễ nhận ra so với người Mạ là người K'Ho theo nếp mẫu hệ: con theo họ mẹ, người con gái chủ động trong hôn nhân, con rể về ở nhà vợ. Những tập quán này đã thay đổi nhiều, nhưng vẫn ảnh hưởng tới cách các gia đình chia đất, chia của.

Một điều nên tránh là gọi chung đồng bào bằng những từ mang sắc thái cũ, hoặc dùng tên một dân tộc để gọi tất cả. Khi không chắc người đối diện thuộc dân tộc nào, cách lịch sự nhất là gọi theo tên, theo vai vế như với bất kỳ ai.

Người Kinh: các lớp di dân chồng lên nhau

Người Kinh là cộng đồng đông nhất, nhưng không phải một khối đồng nhất. Lớp sớm nhất đến cùng thời đồn điền thuộc Pháp, làm phu đồn điền, thợ, người buôn bán nhỏ. Lớp lớn hơn đến trong những năm 1950–1960, khi chính quyền thời đó lập các khu dinh điền ở cao nguyên, đưa dân từ miền Trung (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên…) và người di cư từ miền Bắc năm 1954 lên lập nghiệp. Sau năm 1975 có thêm các đợt đi vùng kinh tế mới từ đồng bằng Bắc Bộ, miền Trung và TP.HCM, rồi từ những năm 1990 là dòng người tự do lên tìm đất trồng cà phê, chè, làm thuê, buôn bán.

Kết quả là ngày nay ở Bảo Lộc, người nghe giọng có thể đoán gốc gác: giọng Quảng của các gia đình lên từ thời dinh điền, giọng Huế, giọng Bắc của các xóm đạo di cư, giọng Nam Định, Thái Bình của người kinh tế mới, và giọng Sài Gòn của lớp trẻ đi học, đi làm rồi về. Lớp con cháu sinh ra ở Bảo Lộc thường nói một thứ giọng pha, gần giọng miền Nam nhưng còn giữ vài từ của quê cha mẹ.

Bài riêng về các lớp di dân đi sâu hơn vào từng đợt; ở đây chỉ cần nhớ rằng người Kinh ở Bảo Lộc phần đông là thế hệ thứ hai, thứ ba của người nhập cư. Điều đó tạo nên tính cởi mở của phố núi: ai cũng từng là người mới.

Đồng bào phía Bắc vào sau 1975

Sau năm 1975, cùng với dòng người Kinh đi kinh tế mới, nhiều gia đình người Tày, Nùng, Dao, Mường và một số dân tộc khác từ các tỉnh miền núi phía Bắc cũng vào Lâm Đồng lập nghiệp, có đợt theo kế hoạch, có đợt di cư tự do. Họ tập trung đông hơn ở các huyện như Di Linh, Bảo Lâm, Lâm Hà, Đạ Huoai cũ, nhưng trong phạm vi Bảo Lộc cũng có những gia đình, nhóm hộ như vậy.

Những cộng đồng này mang theo tiếng nói, món ăn, lễ Tết riêng. Có gia đình Tày, Nùng vẫn làm bánh, nấu món quê vào dịp Tết, giữ lối hát của quê cũ trong các buổi họp mặt đồng hương. Ở chợ, đôi khi bạn gặp những thứ rau, măng chế biến theo cách người miền núi phía Bắc mà người địa phương gốc miền Trung không quen.

Do sống xen và lấy nhau qua nhiều thế hệ, ranh giới giữa các nhóm ngày càng mờ. Con cháu lớn lên ở Bảo Lộc nói tiếng Việt là chính, có khi chỉ còn biết vài câu tiếng của ông bà. Đây là xu hướng chung ở mọi vùng di dân, không riêng Bảo Lộc. Các hội đồng hương, nhóm họ tộc vẫn là nơi giữ lại phần nào tiếng nói và nếp cũ.

Người Hoa và những người đến vì nghề

Bảo Lộc có một cộng đồng người Hoa không đông, phần lớn là các gia đình buôn bán ở khu trung tâm từ trước năm 1975 và con cháu họ. Ở nhiều đô thị miền Nam, người Hoa thường gắn với hội quán, tiệm thuốc bắc, tiệm vàng, buôn bán nông sản; ở Bảo Lộc cũng có những nếp như vậy, dù quy mô nhỏ hơn hẳn so với Chợ Lớn hay các thị xã đồng bằng.

Từ những năm 1990, ngành chè và ngành tơ tằm ở Bảo Lộc có sự tham gia của nhà đầu tư, kỹ thuật viên từ Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc và một số nơi khác. Các giống chè ô long, kỹ thuật làm ô long, một số công nghệ ươm tơ được đưa vào trong giai đoạn này. Phần lớn người nước ngoài làm việc theo dự án rồi đi, nhưng họ để lại dấu ấn trong nghề: chữ dùng trong xưởng chè, cách gọi giống chè, khẩu vị trà.

Lớp người đến sau cùng là những người trẻ từ TP.HCM và các tỉnh khác lên mở quán cà phê, homestay, xưởng nhỏ, làm nông nghiệp theo kiểu mới. Họ thường mang theo nhịp sống thành phố, góp phần làm đổi mặt một số khu phố, đồng thời cũng là những người hay đặt câu hỏi về lịch sử, văn hoá vùng đất mà mình chọn.

So sánh nhanh các cộng đồng

Bảng dưới đây chỉ là bức tranh khái quát để người mới đến dễ hình dung; nó không thay cho việc làm quen từng người cụ thể.

Cộng đồngCó mặt từThường thấy ởDấu ấn dễ nhận
Người MạLâu đời, trước thời PhápCác thôn vùng ven, xen khu người KinhCồng chiêng, dệt vải, đan gùi
Người K'HoLâu đờiNhiều hơn ở phía Di Linh, có mặt ở Bảo LộcNếp mẫu hệ, lễ mừng lúa mới, nhạc cụ tre
Người Kinh gốc miền TrungThời đồn điền, đông nhất thập niên 1950–1960Khắp các phườngGiọng Quảng, Huế; món quê miền Trung
Người Kinh gốc miền BắcDi cư 1954, kinh tế mới sau 1975Các xóm đạo, khu kinh tế mới cũGiọng Bắc, nhà thờ, món Bắc ngày Tết
Đồng bào phía BắcSau 1975Rải rác, đông hơn ở vùng lân cậnMón ăn, lối hát quê cũ
Người HoaTrước 1975Khu buôn bán trung tâmBuôn bán, một số phong tục Tết

Ranh giới trong bảng là tương đối. Một gia đình có thể mang nhiều lớp cùng lúc: ông nội lên thời dinh điền, mẹ là người K'Ho, con dâu từ Sài Gòn lên.

Sống xen: va chạm, hoà hợp và những điều nên hiểu

Như mọi vùng di dân, quan hệ giữa các cộng đồng ở Bảo Lộc có lúc êm, có lúc căng, phần lớn quanh chuyện đất đai. Khi rẫy cũ của đồng bào thành vườn chè, vườn cà phê của người đến sau, những câu chuyện mua bán, sang nhượng đất bằng giấy tay, cầm cố đất đã để lại nhiều hệ quả. Các chương trình giao đất, cấp sổ đỏ, hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào nhiều năm qua đều nhằm gỡ dần những nút này.

Ở chiều hoà hợp, đám cưới hỗn hợp, con cái học chung trường, đi chung nhà thờ, cùng làm trong một đội hái chè đã nối các cộng đồng với nhau. Trong các ngày hội văn hoá của phường, đội cồng chiêng có thể có cả thành viên người Kinh. Món canh thụt, cơm lam đã thành món quen của người Kinh, còn bánh chưng, bánh tét có mặt trong nhà đồng bào ngày Tết.

Với người mới chuyển về, điều nên làm là đừng mang theo định kiến có sẵn về bất kỳ nhóm nào. Hãy làm quen hàng xóm, hỏi chuyện về quê gốc của họ, tham gia sinh hoạt tổ dân phố. Ở một thành phố nhỏ như Bảo Lộc, mạng lưới quen biết là thứ giúp bạn nhiều nhất, từ tìm thợ sửa nhà tới biết mùa nào nên mua chè, mua sầu riêng.

Dấu vết các cộng đồng trên mâm cơm và trong lịch năm

Cách dễ nhất để thấy Bảo Lộc là vùng nhiều cộng đồng là nhìn vào bữa ăn và lịch lễ. Trong một tháng, bạn có thể gặp đám giỗ của gia đình gốc Quảng với mì Quảng, bánh tráng; đám cưới của gia đình đạo gốc Bắc với cỗ kiểu đồng bằng Bắc Bộ; bữa cơm của gia đình người Mạ có canh thụt nấu trong ống tre, cơm lam, cà đắng. Chợ Bảo Lộc buổi sáng bán đủ thứ cho tất cả những bữa ăn đó.

Lịch năm cũng xếp chồng. Tết Nguyên đán là dịp chung của hầu hết mọi nhà. Giáng sinh là dịp lớn của các cộng đồng Công giáo, Tin Lành, kể cả nhiều thôn đồng bào. Rằm tháng giêng, lễ Vu Lan, rằm tháng bảy có không khí riêng quanh các chùa. Cuối năm là mùa sum họp của đồng bào sau thu hoạch. Người địa phương lớn lên giữa những lịch ấy nên quen dự lễ của nhau.

Với người mới đến, việc để ý những dịp này giúp bạn hiểu hàng xóm và tránh những vụng về nhỏ, như mở nhạc lớn vào ngày nhà bên có giỗ, hay hẹn công việc đúng vào sáng Giáng sinh với một gia đình theo đạo.

Ngược lại, chính những dịp ấy là cơ hội làm quen. Một lời chúc Tết, một lời hỏi thăm khi nhà bên có đám, một lần nhận lời mời ăn giỗ là đủ để từ người lạ thành người quen trong xóm.

Câu hỏi thường gặp

Dân tộc nào đông nhất ở Bảo Lộc?

Người Kinh chiếm đa số dân cư ở vùng Bảo Lộc, đến từ nhiều lớp di dân miền Trung, miền Bắc và miền Nam. Người Mạ và người K'Ho là cư dân bản địa, chiếm tỷ lệ nhỏ hơn. Tỷ lệ cụ thể theo từng phường mới nên tra số liệu thống kê chính thức gần nhất.

Người Chu Ru có sống ở Bảo Lộc không?

Người Chu Ru tập trung chủ yếu ở vùng Đơn Dương và một phần Đức Trọng, phía bắc tỉnh Lâm Đồng cũ. Ở Bảo Lộc hiếm gặp cộng đồng Chu Ru; nếu có thì chỉ là các gia đình riêng lẻ đến làm việc, lập nghiệp.

Giọng nói ở Bảo Lộc giống vùng nào?

Không có một giọng Bảo Lộc chung. Người lớn tuổi giữ giọng quê gốc (Quảng, Huế, Bắc), còn lớp trẻ sinh ra ở đây nói giọng pha gần với giọng miền Nam. Bạn sẽ nghe nhiều giọng trong cùng một khu phố, đó chính là dấu vết các đợt di dân.

Có nên hỏi thẳng người khác là dân tộc gì không?

Nên tránh hỏi thẳng khi mới gặp, nhất là ở nơi đông người. Khi đã quen, câu hỏi về quê gốc, tiếng nói, phong tục thường được đón nhận nếu bạn hỏi vì muốn hiểu. Điều quan trọng là không đem câu trả lời ra để so sánh hơn kém.

Tìm hiểu văn hoá các dân tộc ở Lâm Đồng có hệ thống thì bắt đầu từ đâu?

Bảo tàng Lâm Đồng ở Đà Lạt có phần trưng bày về các dân tộc bản địa trong tỉnh. Sau đó, các ngày hội văn hoá dân tộc, các buổi diễn cồng chiêng và tiếp xúc trực tiếp qua người quen trong cộng đồng sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn sách vở.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.