Ngoài người Mạ, K'Ho bản địa, phần lớn người Bảo Lộc hôm nay là con cháu của những lớp di dân lên cao nguyên trong khoảng một thế kỷ qua: người làm đồn điền thời Pháp, dân dinh điền từ miền Trung trong thập niên 1950–1960, người Công giáo di cư từ miền Bắc sau 1954, người đi kinh tế mới sau 1975, dòng di dân tự do từ những năm 1990, và lớp người trẻ chọn phố núi để sống gần đây.
Mỗi lớp mang theo giọng nói, món ăn, cách làm vườn, cách cưới hỏi riêng, và để lại dấu vết trên tên xóm, trên kiến trúc nhà, trên các nơi thờ tự. Bài này kể lại các lớp ấy từ góc đời sống: họ lên vì sao, sống thế nào những năm đầu, và để lại gì. Mốc năm chỉ ghi ở mức thập niên; chuyện hành chính, tên gọi qua các thời kỳ có bài riêng ở phần lịch sử.
Lớp đầu: phu đồn điền và người theo con đường
Từ đầu thế kỷ XX, khi người Pháp mở đường lên cao nguyên và lập các đồn điền chè, cà phê ở vùng B'Lao, họ cần nhân công. Lực lượng này phần lớn là người Kinh từ đồng bằng, miền Trung, được mộ lên làm phu, cùng với một số người bản địa. Đời sống phu đồn điền vất vả, nhiều người mắc sốt rét, không ít người bỏ về. Những người ở lại thành hạt nhân cư dân người Kinh đầu tiên ở đây.
Cùng với đồn điền là con đường. Quốc lộ 20 nối Sài Gòn với Đà Lạt đi qua B'Lao biến nơi này thành điểm dừng chân, có quán xá, trạm nghỉ, người buôn bán. Một số gia đình lên theo con đường, mở quán ăn, tiệm tạp hoá cho khách đi xe và cho công nhân đồn điền.
Lớp người này để lại ít dấu vết vật chất vì đông người đã đi nơi khác hoặc hoà vào các lớp sau. Nhưng trong các gia đình lâu đời ở khu trung tâm, đôi khi vẫn còn câu chuyện ông cố lên làm cai, làm thợ ở đồn điền, như một mốc khởi đầu của dòng họ ở phố núi.
Dinh điền thập niên 1950–1960: người miền Trung lên khai hoang
Lớp di dân lớn nhất trong ký ức của nhiều gia đình Bảo Lộc là các khu dinh điền lập vào khoảng nửa sau thập niên 1950. Chính quyền thời đó đưa dân từ các tỉnh miền Trung đông người, đất hẹp như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên lên cao nguyên, cấp đất, công cụ, hỗ trợ lương thực ban đầu để khai hoang trồng trọt. Vùng B'Lao, Di Linh là một trong những nơi đón nhiều đoàn người như vậy.
Những năm đầu rất khó: rừng rậm, mưa dầm, sốt rét, đất chưa quen. Người dinh điền phát rừng, dựng nhà tạm, trồng lúa, khoai sắn để ăn, rồi dần chuyển sang chè, cà phê khi thấy đất hợp. Nhiều xóm ở Bảo Lộc hình thành từ những khu dinh điền này, giữ tên gọi theo thứ tự khu, theo tên làng quê gốc hoặc tên người đứng đầu đoàn.
Dấu ấn của người miền Trung đến hôm nay vẫn rõ: giọng Quảng, giọng Huế trong các gia đình lớn tuổi, mì Quảng, bún bò Huế, bánh bèo ở chợ, nếp giỗ chạp chu đáo và những ngôi chùa xây theo dáng chùa quê miền Trung.
Người di cư từ miền Bắc sau 1954
Sau Hiệp định Genève năm 1954, nhiều người từ miền Bắc di cư vào Nam, phần đông là người Công giáo đi theo các cha xứ, các giáo xứ. Một bộ phận được đưa lên cao nguyên lập nghiệp, và vùng Bảo Lộc có những cộng đồng như vậy. Họ thường đi thành nhóm cả giáo xứ, dựng nhà quanh nhà thờ, giữ nếp sinh hoạt của làng đạo đồng bằng Bắc Bộ.
Những xóm đạo di cư dễ nhận ra bởi ngôi nhà thờ ở trung tâm, nhà cửa san sát quanh đó, tiếng chuông sáng chiều, các hội đoàn sinh hoạt đều đặn. Một số nơi có tên gợi về quê cũ ngoài Bắc. Giọng nói của thế hệ đầu là giọng Bắc vùng đồng bằng; thế hệ sau đã pha nhiều.
Cộng đồng này đóng góp lớn vào nghề trồng chè, trồng rau và các nghề thủ công ở Bảo Lộc, và mang theo nhiều món ăn, nếp cỗ ngày Tết của miền Bắc. Ngày Giáng sinh ở các xóm đạo cũng là một nét quen thuộc của phố núi.
Kinh tế mới sau 1975 và di dân tự do những năm 1990
Sau năm 1975, chính sách đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới đã đưa nhiều gia đình từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, miền Trung và từ TP.HCM lên Lâm Đồng. Ở vùng Bảo Lộc, người kinh tế mới khai hoang, nhận đất trồng chè, cà phê, làm việc trong các nông trường chè quốc doanh. Đời sống những năm đầu thiếu thốn; người lớn tuổi hay kể chuyện ăn độn, nhà tranh vách đất, đi bộ hàng giờ ra chợ.
Từ cuối thập niên 1980 sang 1990, khi giá cà phê lên và việc mua bán đất dễ hơn, một dòng người di cư tự do đổ lên cao nguyên tìm đất. Họ đến từ khắp nơi, nhiều nhất là miền Trung và miền Bắc, mua lại đất, khai thêm đất, trồng cà phê, chè. Dòng người này làm dân số vùng tăng nhanh, đồng thời cũng gây sức ép lên rừng và đất của đồng bào bản địa.
Cũng trong giai đoạn này có đồng bào Tày, Nùng, Dao và các dân tộc phía Bắc vào Lâm Đồng, chủ yếu ở các huyện lân cận nhưng có cả ở Bảo Lộc. Bức tranh dân cư vì thế càng đa dạng, và mỗi nhóm lại mang theo kinh nghiệm canh tác, món ăn, cách làm nhà của quê mình lên cao nguyên.
Lớp người trẻ lên phố núi gần đây
Khoảng mười năm trở lại đây xuất hiện một kiểu di dân khác: người trẻ, có nghề, từ TP.HCM và các đô thị lớn lên Bảo Lộc sống. Có người lên mở quán cà phê, homestay, xưởng rang, xưởng trà nhỏ; có người làm việc từ xa; có người mua đất làm vườn theo kiểu nông nghiệp sạch. Khoảng cách tương đối gần TP.HCM, khí hậu mát và chi phí sống thấp hơn thành phố lớn là những lý do họ hay nhắc.
Lớp người này khác các lớp trước ở chỗ không lên vì đói đất, mà vì chọn lối sống. Họ mang theo thói quen tiêu dùng thành phố, góp phần làm xuất hiện các quán cà phê view đồi, các cửa hàng nông sản đóng gói, các nhóm sống xanh. Họ cũng gặp những bài toán riêng: mùa mưa dài, việc làm ít, mạng lưới quen biết mỏng, chuyện đất đai, giấy tờ phức tạp hơn tưởng tượng.
Bài về sống và thủ tục sau sáp nhập ở phần khác của trang dành cho những ai đang tính chuyện chuyển lên; ở đây chỉ ghi nhận đây là lớp cư dân mới nhất của phố núi.
Những năm đầu: chuyện sống còn của người mới lên
Dù lên ở thời nào, những năm đầu của người di dân ở Bảo Lộc có nhiều điểm giống nhau. Thứ nhất là mưa: mùa mưa trên cao nguyên kéo dài nửa năm, đường đất đỏ lầy lội, nhà tạm dột, quần áo không khô. Người từ đồng bằng miền Trung vốn quen nắng gió phải tập sống với cái ẩm ướt, lạnh lẽo kéo dài.
Thứ hai là bệnh tật. Trong ký ức các gia đình lên từ giữa thế kỷ XX, sốt rét là nỗi sợ thường trực, không ít người mất trong những năm đầu. Thứ ba là cái ăn: đất mới khai hoang chưa cho thu hoạch ngay, người ta phải ăn độn khoai sắn, hái rau rừng, có khi đổi đồ với đồng bào để có gạo.
Thứ tư là cô đơn. Xa quê, xa họ hàng, người di dân dựa vào nhau theo nhóm đồng hương, theo giáo xứ, theo xóm. Chính những mạng lưới đó về sau thành nền móng của các hội đồng hương, các dòng họ, các cộng đồng mà ta thấy hôm nay. Nhiều gia đình kể rằng ông bà sống được qua những năm ấy là nhờ hàng xóm, và nếp sống tương trợ đó vẫn còn trong cách người Bảo Lộc đối xử với nhau.
Những câu chuyện ấy cũng giải thích vì sao người lớn tuổi ở Bảo Lộc quý đất đến vậy. Với họ, mảnh vườn không chỉ là tài sản mà là thành quả của cả một đời khai phá, đổi bằng sức khoẻ và có khi bằng cả người thân.
Các lớp di dân và dấu vết còn lại
Bảng tóm lược để người đọc dễ hình dung; mốc thời gian chỉ ở mức thập niên.
| Lớp người | Khoảng thời gian | Từ đâu | Dấu vết dễ thấy hôm nay |
|---|---|---|---|
| Phu, thợ đồn điền, người buôn bán dọc đường | Đầu đến giữa thế kỷ XX | Đồng bằng, miền Trung | Ký ức gia đình lâu đời ở khu trung tâm |
| Dân dinh điền | Nửa sau thập niên 1950, 1960 | Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên… | Giọng Quảng, Huế; chùa; món miền Trung |
| Người di cư 1954 | Từ 1954 | Đồng bằng Bắc Bộ | Xóm đạo, nhà thờ, cỗ Bắc |
| Kinh tế mới | Sau 1975, thập niên 1980 | Bắc Bộ, miền Trung, TP.HCM | Nông trường chè cũ, xóm khai hoang |
| Di dân tự do | Cuối 1980, thập niên 1990 | Khắp nơi | Vườn cà phê, chè mở rộng |
| Người trẻ chọn lối sống | Khoảng mười năm gần đây | TP.HCM, đô thị lớn | Quán cà phê, homestay, xưởng nhỏ |
Không có lớp nào là "người Bảo Lộc thật" hơn lớp nào. Ngoài cư dân bản địa, ai ở đây cũng có ông bà, cha mẹ từng là người mới đến.
Sống chung: từ người lạ thành người phố núi
Điều làm nên tính cách Bảo Lộc có lẽ chính là sự chồng lớp này. Người ta quen với việc hàng xóm nói giọng khác, ăn món khác, theo đạo khác. Hiếm có khu phố nào ở Bảo Lộc chỉ toàn người cùng một quê. Một gia đình gốc Quảng có con dâu gốc Bắc, cháu ngoại lai Mạ là chuyện bình thường.
Nhưng chồng lớp cũng có mặt khó. Tranh chấp đất đai giữa các lớp người, giữa người đến sau và đồng bào bản địa từng là chuyện nóng ở nhiều nơi trên cao nguyên. Mỗi đợt di dân lớn đều để lại những hồ sơ đất phức tạp mà người mua đất hôm nay cần biết để cẩn thận.
Với người đọc là con cháu của những lớp di dân ấy, ghi lại câu chuyện gia đình mình lên Bảo Lộc khi nào, từ đâu, những năm đầu sống ra sao là việc đáng làm khi ông bà còn kể được. Những câu chuyện như vậy mới là lịch sử dân cư thật của phố núi.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao ở Bảo Lộc nghe nhiều giọng nói khác nhau?
Vì dân cư hình thành từ nhiều lớp di dân: người miền Trung lên thời dinh điền, người Bắc di cư năm 1954, người kinh tế mới sau 1975, di dân tự do từ những năm 1990. Thế hệ đầu giữ giọng quê, con cháu sinh ra ở đây nói giọng pha gần miền Nam.
Dinh điền là gì?
Dinh điền là các khu định cư khai hoang do chính quyền thời đó lập ở cao nguyên và một số vùng khác trong khoảng nửa sau thập niên 1950, đưa dân từ các vùng đông đúc lên cấp đất, hỗ trợ ban đầu để trồng trọt. Nhiều xóm ở vùng Bảo Lộc hình thành từ những khu như vậy.
Làm sao tìm hiểu gia đình mình lên Bảo Lộc từ khi nào?
Cách đáng tin nhất là hỏi người lớn tuổi trong họ, xem gia phả, giấy tờ đất cũ, sổ hộ khẩu cũ nếu còn. Với các gia đình Công giáo, sổ rửa tội, hôn phối ở giáo xứ cũng là nguồn ghi năm tháng. Ghi âm lời kể khi ông bà còn khoẻ là việc nên làm sớm.
Người mới chuyển lên Bảo Lộc có dễ hoà nhập không?
Nhìn chung khá dễ, vì phần lớn dân cư cũng từng là người mới đến và quen sống cạnh người khác quê. Tham gia sinh hoạt tổ dân phố, đi chợ quen, chào hỏi hàng xóm là những bước đơn giản nhưng hiệu quả nhất.
Đất mua của người đến trước có rủi ro gì?
Nhiều mảnh đất qua nhiều đời sang nhượng bằng giấy tay, có nơi liên quan đến đất của đồng bào hoặc đất lâm nghiệp cũ. Trước khi mua, nên kiểm tra giấy chứng nhận, quy hoạch và lịch sử sử dụng đất tại cơ quan đất đai của phường, nhờ người có chuyên môn xem hồ sơ.