Nghề tằm tơ ở Bảo Lộc không phải nghề bản địa của người Mạ mà đến cùng các lớp cư dân từ đồng bằng lên lập nghiệp trong thế kỷ XX, phát triển mạnh khi có các xưởng ươm tơ quy mô lớn, rồi trải qua những giai đoạn giá tơ xuống làm nhiều hộ chặt dâu, trước khi hồi lại với giống mới, nuôi tằm con tập trung và máy ươm tự động. Đó là lịch sử của một nghề sống theo giá thị trường, không phải một đường đi lên thẳng.
Bài viết kể lại các giai đoạn theo những gì thường được nhắc trong tài liệu và trong lời kể của người địa phương. Mốc năm, sản lượng, tên doanh nghiệp chỉ được nói chung khi không chắc; người cần số liệu chính xác nên tra tài liệu của tỉnh Lâm Đồng và của ngành dâu tằm tơ.
Trước khi có nghề tằm
Cao nguyên quanh Bảo Lộc là đất cư trú lâu đời của người Mạ, sống bằng rẫy, săn bắt, hái lượm, với những cánh rừng còn rộng. Trong đời sống truyền thống của họ không có nghề trồng dâu nuôi tằm. Vải của người bản địa vùng này là vải dệt từ sợi bông trên khung dệt tay, với hoa văn riêng.
Thời Pháp, vùng B'Lao được biết tới qua các đồn điền chè, cà phê và con đường nối Sài Gòn lên Đà Lạt. Những người đầu tiên từ đồng bằng lên đây phần lớn làm phu đồn điền, làm đường, rồi dần ở lại lập vườn. Trong giai đoạn này, chè mới là cây làm nên tên tuổi vùng đất, còn dâu tằm chưa có vị trí đáng kể.
Ở đồng bằng thì khác: nghề tằm tơ Việt Nam đã có từ rất lâu, với những vùng nổi tiếng ở đồng bằng sông Hồng, ở Quảng Nam, ở vùng Tân Châu miền Tây. Chính người từ những vùng đó, khi lên cao nguyên, mang theo hiểu biết về cây dâu, con tằm, khung cửi.
Người đi lập nghiệp mang nghề lên cao nguyên
Nửa sau thế kỷ XX, Bảo Lộc đón nhiều lớp cư dân: người miền Bắc di cư vào Nam giữa thập niên 1950, người miền Trung trong các đợt lập khu định cư, rồi các đợt đi xây dựng vùng kinh tế mới sau năm 1975. Trong đó có không ít gia đình gốc Quảng Nam, nơi có nghề tằm tang lâu đời, và người từ các làng có nghề ở phía bắc.
Theo lời kể của nhiều gia đình lâu năm, những vườn dâu đầu tiên ở Bảo Lộc khá nhỏ, nuôi tằm theo cách quê cũ: nong tre, né tre, giống tằm địa phương. Họ nhanh chóng nhận ra khí hậu mát của cao nguyên hợp với tằm hơn ở quê, nhất là các giống tằm cho kén trắng, kén to.
Điều mà người lên lập nghiệp chưa có là xưởng ươm và đầu ra. Kén làm ra phải bán qua thương lái, đi xa, giá bấp bênh. Nghề tằm vì thế ban đầu chỉ là một nghề phụ bên cạnh chè, cà phê và hoa màu.
Các giai đoạn lớn, theo cách thường được kể
Dưới đây là khung các giai đoạn, viết theo những mô tả phổ biến trong tài liệu và lời kể địa phương. Mốc năm chỉ nêu theo thập niên và nên đối chiếu nguồn chính thức.
- Giai đoạn đặt nền: các hộ di dân trồng dâu nuôi tằm quy mô nhỏ, giống địa phương, chưa có chế biến lớn tại chỗ.
- Giai đoạn mở rộng: khoảng từ cuối thập niên 1980 và trong thập niên 1990, theo nhiều tài liệu nhắc lại, nghề tằm ở Lâm Đồng được khuyến khích, có đầu tư xưởng ươm tơ, trong đó có các dự án có vốn nước ngoài; diện tích dâu và số hộ nuôi tăng nhanh.
- Giai đoạn khủng hoảng: đầu những năm 2000, giá tơ thế giới giảm, cạnh tranh từ các nước sản xuất tơ lớn tăng, kén rớt giá; nhiều hộ ở Bảo Lộc phá dâu chuyển sang cà phê, chè hoặc cây khác, một số xưởng ươm thu hẹp.
- Giai đoạn hồi phục: khoảng từ thập niên 2010, giá kén hồi lên, giống dâu năng suất cao và giống tằm lưỡng hệ phổ biến hơn, mô hình nuôi tằm con tập trung và máy ươm tự động lan rộng; diện tích dâu tăng trở lại.
- Hiện nay: nghề tằm tồn tại song song với cà phê, sầu riêng, chè; vừa có cơ hội từ tơ chất lượng cao, vừa chịu áp lực từ giá, lao động và chuyển đổi cây trồng.
Khung trên không thay thế được tài liệu lịch sử chính thức. Nó chỉ giúp người đọc thấy nghề tằm Bảo Lộc đi theo chu kỳ, và hiểu vì sao những người lớn tuổi ở đây nói về dâu tằm với nhiều cảm xúc lẫn lộn.
Đồ nghề đổi qua các thời
Nhìn vào đồ nghề là thấy lịch sử nghề tằm ở Bảo Lộc. Thời đầu là nong tre tròn, đũi tre xếp trên giàn gỗ, né tre đan xoắn mang từ quê lên hoặc tự đan. Lá dâu hái từng lá bằng tay, thái nhỏ trên thớt cho tằm con. Mọi việc gói trong căn nhà ở, tằm nuôi ngay trong gian bên hoặc dưới hiên.
Đến giai đoạn mở rộng, nhiều nhà làm riêng nhà nuôi tằm, giàn sắt nhiều tầng thay giàn gỗ, quạt điện, bóng đèn sưởi, vôi bột và hoá chất khử trùng được dùng thường xuyên hơn. Ở xưởng, guồng ươm chạy điện thay guồng quay tay, nồi nấu kén bằng hơi thay bếp củi.
Giai đoạn gần đây là né gỗ ô vuông, nuôi trên nền, cho ăn cả cành, nhận tằm tuổi ba từ cơ sở tằm con, máy cắt cành, xe chở lá. Ở xưởng là các dàn máy ươm tự động dài, có cảm biến. Những đồ nghề cũ như nong tre, né tre giờ ít thấy trong nhà nuôi lớn, nhưng vẫn còn ở vài hộ nhỏ và trong các góc trưng bày cho khách. Một chiếc né tre cũ treo trên vách nhà nhiều khi là dấu vết duy nhất còn lại của một vườn dâu đã chặt từ những năm giá xấu.
Những năm chặt dâu
Người Bảo Lộc lớn tuổi hay nhắc tới những năm kén rẻ như cho. Khi giá kén không đủ bù công cắt lá, nhiều gia đình đành phá vườn dâu. Cảnh xe chở gốc dâu đi làm củi, vườn dâu chuyển thành vườn cà phê non là ký ức của nhiều xóm ven phố.
Nguyên nhân không nằm ở Bảo Lộc. Thị trường tơ là thị trường toàn cầu, giá do những nước sản xuất lớn và nhu cầu thời trang thế giới chi phối. Một vùng tơ nhỏ như Bảo Lộc không có cách nào giữ giá khi thị trường đổ. Ở giai đoạn đó, tơ ươm thủ công, chất lượng chưa đều, càng khó cạnh tranh.
Bài học được rút ra không phải ngay lập tức, nhưng rõ dần: muốn nghề tằm sống được qua những năm giá xấu, cần tơ chất lượng cao hơn để bán vào phân khúc tốt, cần giảm chi phí và rủi ro cho người nuôi, cần liên kết chặt hơn giữa người nuôi và người ươm. Những thay đổi của giai đoạn sau phần nhiều đi theo hướng đó.
Hồi phục và những thay đổi về cách làm
Khi giá kén hồi lên, người nuôi quay lại với dâu tằm, nhưng không còn làm như xưa. Giống dâu mới cho lá to, nhiều lá hơn trên cùng diện tích. Giống tằm lưỡng hệ được dùng rộng rãi hơn, cho kén trắng, đều. Né gỗ ô vuông thay dần né tre. Tằm con được nuôi ở cơ sở chuyên, hộ chỉ nuôi tằm lớn. Cho ăn cả cành, nuôi trên nền giúp giảm công.
Ở khâu ươm, máy ươm tự động được đầu tư nhiều hơn, cho tơ cấp cao, đáp ứng khách hàng khó tính. Một vùng tằm có máy ươm tự động sẽ kéo theo yêu cầu kén tốt hơn, và ngược lại kén tốt hơn giúp máy chạy hiệu quả. Đây là vòng tác động qua lại làm thay đổi cả nghề.
Nghề tằm cũng có thêm mặt du lịch: khách tới Bảo Lộc được đưa đi xem vườn dâu, xưởng ươm, cửa hàng lụa. Mặt này đem lại thu nhập phụ và giúp giữ hình ảnh của vùng, nhưng không thay được nền tảng là giá kén và giá tơ.
Những câu hỏi còn để ngỏ
Lao động là mối lo lớn. Nghề tằm cần người ở nhà, chịu khó, trong khi người trẻ ở Bảo Lộc nhiều người đi làm xa hoặc chọn công việc khác. Những hộ nuôi giỏi nhất hiện nay phần lớn đã ở tuổi trung niên trở lên. Nghề có được truyền tiếp hay không phụ thuộc vào việc nó có đủ hấp dẫn về thu nhập và cách làm.
Cạnh tranh đất với cây khác cũng là câu hỏi. Sầu riêng, cà phê, các loại cây có giá trị cao khiến nhiều người cân nhắc lại vườn dâu. Thêm vào đó, vườn dâu cần môi trường ít thuốc trừ sâu, trong khi các cây khác xung quanh có thể phun nhiều. Sống chung giữa các loại vườn là bài toán của cả cộng đồng.
Cuối cùng là giá trị giữ lại ở địa phương. Phần lớn tơ rời Bảo Lộc dưới dạng tơ sống, phần giá trị gia tăng từ dệt, thiết kế, thương hiệu nằm ở nơi khác. Có nên và có thể làm thêm khâu sau ngay tại Bảo Lộc hay không là câu hỏi mà doanh nghiệp và chính quyền địa phương vẫn đang tìm lời đáp.
Nhìn nghề tằm như một phần lịch sử phố núi
Với người mới về Bảo Lộc, câu chuyện tằm tơ giúp hiểu vì sao vùng đất này có dáng dấp như hôm nay: những xóm có giọng Quảng, giọng Bắc, những ngôi nhà nuôi tằm dài giữa đồi, những xưởng ươm ven quốc lộ. Đó là dấu vết của những người đi lập nghiệp và của những lần thị trường lên xuống.
Với người quê Bảo Lộc đi xa, nghề tằm là một phần ký ức: tiếng tằm ăn rỗi, mùi kén nấu, những buổi phụ cha mẹ bắt tằm lên né. Ghi lại những ký ức ấy, kể cả những năm khó khăn, có giá trị không kém việc ghi sản lượng.
Với người làm ăn, lịch sử nghề tằm là lời nhắc thực tế: đừng nhìn một vài năm giá tốt mà nghĩ đó là mãi mãi. Nghề đã sống sót qua những năm xấu nhờ những thay đổi về chất lượng và cách làm, không phải nhờ may mắn. Ai định đầu tư vào dâu tằm hay tơ lụa ở đây nên ngồi nghe một người đã đi qua cả năm chặt dâu lẫn năm trồng lại kể chuyện, trước khi đọc bất kỳ bản kế hoạch nào.
Câu hỏi thường gặp
Người Mạ có nghề dệt vải không?
Có. Người Mạ và nhiều dân tộc ở cao nguyên có nghề dệt thổ cẩm bằng khung tay, dùng sợi bông và hoa văn riêng. Đây là nghề khác với nghề tằm tơ của người Kinh từ đồng bằng mang lên, dù cả hai đều là nghề dệt.
Vì sao thập niên 1990 nghề tằm ở Lâm Đồng lên mạnh?
Theo những gì thường được nhắc, giai đoạn này có chính sách khuyến khích, có đầu tư vào xưởng ươm tơ, có giống tằm phù hợp với khí hậu cao nguyên, và thị trường tơ thuận lợi. Chi tiết từng chính sách và dự án nên tra tài liệu chính thức của tỉnh.
Có phải người Quảng Nam đưa nghề tằm lên Bảo Lộc?
Người gốc Quảng Nam là một trong những nhóm được nhắc nhiều khi kể về nghề tằm ở Bảo Lộc, vì quê họ có nghề tằm tang lâu đời. Nhưng nghề ở đây là sự góp sức của nhiều lớp cư dân và của kỹ thuật mới, không chỉ của một nhóm.
Giá kén có còn lên xuống mạnh như trước không?
Giá kén vẫn đi theo giá tơ thế giới nên vẫn có biến động. Điểm khác là nay người nuôi có giống tốt hơn, cách nuôi giảm chi phí hơn và liên kết với xưởng chặt hơn, nên chịu được biến động tốt hơn phần nào. Bài này không dự báo giá.
Có bảo tàng hay nơi trưng bày lịch sử nghề tằm ở Bảo Lộc không?
Một số cơ sở có góc trưng bày về nghề tằm cho khách tham quan, nhưng thông tin có thể thay đổi. Nên hỏi đơn vị du lịch hoặc cơ quan văn hoá địa phương để biết nơi nào hiện mở cửa và có thông tin đáng tin cậy.
Sau sáp nhập 2025, nghề tằm có thay đổi gì không?
Việc sáp nhập đơn vị hành chính đổi tên phường, xã và địa chỉ trên giấy tờ, chứ không trực tiếp thay đổi cách làm nghề. Người nuôi và xưởng ươm vẫn hoạt động như trước; chỉ thủ tục, hồ sơ cần ghi theo đơn vị mới.