Cây chè được trồng trên quy mô lớn ở vùng Bảo Lộc từ thời thuộc Pháp, khi các đồn điền chè được lập trên cao nguyên B'Lao vào khoảng thập niên 1920–1930 theo các tài liệu địa phương. Từ đó, nghề trà đi qua nhiều giai đoạn: đồn điền, xưởng chè tư nhân của người Việt và người Hoa, nông trường và xí nghiệp quốc doanh sau 1975, làn sóng ô long cùng giống chè Đài Loan từ thập niên 1990, và gần đây là sự thu hẹp khi nhiều vườn chè chuyển sang cây khác.
Bảo Lộc vì thế thường được gọi là thủ phủ chè của Lâm Đồng, và Lâm Đồng từng là một trong những vùng chè lớn nhất cả nước. Bài này kể lại các giai đoạn ấy dưới góc nghề trà: ai trồng, trồng giống gì, làm ra loại trà nào, bán đi đâu. Mốc năm chỉ ghi ở mức thập niên khi không chắc; lịch sử hành chính của vùng có bài riêng ở phần lịch sử.
Vì sao người Pháp chọn cao nguyên B'Lao để trồng chè
Cây chè ưa khí hậu mát, mưa nhiều, đất chua thoát nước tốt, và cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc có đủ những điều đó: độ cao khoảng tám, chín trăm mét, đất đỏ bazan sâu, mùa mưa dài, sương mù. Khi người Pháp mở đường từ Sài Gòn lên Đà Lạt và khảo sát vùng cao nguyên phía nam, những vùng đất như vậy được nhìn nhận là thích hợp cho chè và cà phê, hai cây công nghiệp có giá trên thị trường thế giới thời đó.
Cùng thời, chè đã được trồng ở vùng Cầu Đất gần Đà Lạt và một số nơi khác trên cao nguyên. B'Lao có lợi thế nằm gần đồng bằng hơn, trên trục đường đi Sài Gòn, thuận chở hàng xuống cảng. Các đồn điền được lập, rừng được khai phá, nhân công được mộ từ đồng bằng và trong cộng đồng bản địa.
Giống chè thời này chủ yếu là chè hạt, tức trồng bằng hạt, có nguồn gốc từ các dòng chè Assam hoặc chè Shan, cây cao, lá to, phù hợp làm trà đen theo kiểu Anh, Ấn Độ. Những gốc chè già có thân to, xù xì mà ngày nay vẫn còn thấy ở một số đồi là di sản của các thế hệ chè hạt này, dù không thể khẳng định gốc nào trồng từ thời Pháp.
Từ đồn điền đến xưởng chè tư nhân
Sau năm 1954, nhiều đồn điền đổi chủ hoặc bị chia nhỏ, đồng thời các lớp di dân người Việt lên định cư, nhận đất, trồng chè. Đây là giai đoạn hình thành các vườn chè gia đình và các xưởng chè tư nhân. Nhiều tài liệu và ký ức gia đình kể về các nhà máy chè do người Việt, người Hoa đầu tư ở Bảo Lộc thời kỳ này, làm chè xanh, chè đen bán đi Sài Gòn và xuất khẩu.
Chè xanh cao nguyên được đưa xuống các xưởng ướp hương ở đồng bằng để làm trà lài, trà sen, những loại trà quen thuộc của người miền Nam. Chè đen theo kiểu Anh được bán cho các hãng trà, một phần xuất khẩu. Tên Bảo Lộc dần gắn với trà trong nhận thức của người tiêu dùng miền Nam.
Cũng trong giai đoạn này, các gia đình di dân học trồng chè, hái chè, sao chè thủ công. Nghề trà trở thành sinh kế của hàng nghìn hộ, và kiến thức về chè được truyền trong gia đình, trong xóm, chứ không chỉ trong các đồn điền.
Sau 1975: nông trường, xí nghiệp và chè xuất khẩu
Sau năm 1975, phần lớn các nhà máy, đồn điền chè được quốc hữu hoá, tổ chức lại thành các nông trường, xí nghiệp chè quốc doanh. Lâm Đồng trở thành một vùng chè trọng điểm, sản phẩm chủ yếu là chè đen và chè xanh nguyên liệu cho xuất khẩu, một phần sang các nước thuộc khối kinh tế cũ. Người kinh tế mới lên Bảo Lộc nhiều người làm công nhân nông trường chè.
Đây cũng là giai đoạn có thêm các giống chè mới được nghiên cứu, chọn lọc và đưa vào trồng bằng cành, cho năng suất cao hơn chè hạt. Các cơ sở nghiên cứu nông nghiệp ở Bảo Lộc tham gia vào việc khảo nghiệm giống, kỹ thuật canh tác chè cho vùng cao nguyên.
Cuối thập niên 1980, khi cơ chế thay đổi, đất nông trường được giao khoán cho hộ gia đình, nhiều hộ trở thành chủ vườn chè, bán búp tươi cho nhà máy hoặc tự chế biến. Mô hình hộ gia đình trồng, nhà máy thu mua búp tươi tồn tại cho tới ngày nay.
Thập niên 1990: ô long và giống chè Đài Loan
Từ đầu thập niên 1990, nhà đầu tư và kỹ thuật viên từ Đài Loan đến Lâm Đồng, mang theo các giống chè dùng để làm ô long như Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Tứ Quý, Ô long Thanh Tâm, cùng kỹ thuật chế biến ô long. Vùng Bảo Lộc và các vùng lân cận như Di Linh, Bảo Lâm có nhiều vườn chè giống mới, nhiều xưởng ô long, ban đầu chủ yếu để xuất sang Đài Loan.
Làn sóng này thay đổi nghề trà Bảo Lộc ở nhiều mặt. Kỹ thuật canh tác chăm chút hơn vì búp ô long đòi hỏi chất lượng cao. Chế biến tinh hơn, nhiều công đoạn thủ công. Người làm chè Việt học được kỹ thuật, dần mở xưởng ô long riêng. Ô long từ chỗ là hàng xuất khẩu đã trở thành loại trà được người Việt biết đến và mua làm quà khi ghé Bảo Lộc.
Cũng từ đó, các từ như quay xanh, vò viên, Tứ Quý, Kim Tuyên đi vào ngôn ngữ của người làm trà Bảo Lộc. Bài riêng về ô long trong mục này đi sâu vào cách làm.
Những năm gần đây: đồi chè thu hẹp
Khoảng mười, mười lăm năm trở lại đây, diện tích chè ở vùng Bảo Lộc giảm rõ. Lý do được người trong nghề nhắc nhiều nhất là thu nhập: giá búp chè tươi bấp bênh, công hái chè cao, trong khi cà phê, rồi sầu riêng cho giá trị trên mỗi diện tích cao hơn nhiều. Nhiều vườn chè già, năng suất thấp đã bị nhổ để trồng sầu riêng, cà phê, hoặc thành đất ở khi đô thị mở rộng.
Nhà máy chè lớn ít đi, một số đóng cửa hoặc chuyển đổi. Các xưởng nhỏ, xưởng gia đình làm ô long, chè xanh đặc sản chọn con đường làm ít mà tinh, bán thẳng cho người tiêu dùng, cho khách du lịch, cho các quán trà ở thành phố. Một số đồi chè đẹp được giữ lại cũng vì giá trị cảnh quan, đón khách tham quan.
Người lớn tuổi trong nghề hay tiếc những đồi chè xanh ngút ngày trước. Người trẻ thì nhìn nghề trà như một nghề có thể làm khác: làm thương hiệu trà nhỏ, làm trà theo vụ, kể câu chuyện vùng trồng. Cả hai cách nhìn đều có lý; nghề trà Bảo Lộc đang ở giữa hai con đường ấy. Và cũng như mọi vùng nông sản, hướng đi cuối cùng sẽ do giá cả, công lao động và lựa chọn của người tiêu dùng định đoạt nhiều hơn là do mong muốn của ai.
Người làm chè: từ phu đồn điền đến chủ xưởng nhỏ
Lịch sử trà Bảo Lộc cũng là lịch sử của những người làm chè. Thời đồn điền, người hái chè, người làm trong xưởng là phu mộ từ đồng bằng và người bản địa, làm theo giờ giấc, kỷ luật của chủ Pháp. Ký ức về thời này còn lại rất ít, chủ yếu qua lời kể truyền lại trong gia đình.
Thời các xưởng tư nhân, nghề chè mở ra cho các hộ di dân: có hộ trồng bán búp, có hộ làm thợ sao chè, có hộ tự mở lò sao nhỏ. Sau 1975, nhiều người trở thành công nhân nông trường, làm theo kế hoạch; khi giao khoán, họ thành chủ vườn trên chính những lô chè mình từng chăm. Từ thập niên 1990, có thêm những người thợ được kỹ thuật viên Đài Loan dạy làm ô long, rồi chính họ mở xưởng.
Lớp người làm chè hôm nay đa dạng: hộ trồng bán búp tươi, xưởng gia đình làm ô long, chè xanh, nhà máy còn lại làm trà đen, chè xanh nguyên liệu, và những người trẻ mở thương hiệu trà nhỏ, bán qua mạng. Mỗi lớp mang theo một phần ký ức của nghề, và câu chuyện của họ là phần sống động nhất của lịch sử trà Bảo Lộc, sống động hơn mọi con số sản lượng.
Dòng thời gian tóm lược
Các mốc dưới đây ghi ở mức giai đoạn, vì nhiều năm cụ thể còn khác nhau giữa các nguồn:
- Khoảng thập niên 1920–1930: người Pháp lập đồn điền chè trên cao nguyên B'Lao, trồng chè hạt, làm trà đen.
- Sau 1954 đến 1975: vườn chè gia đình của người di dân, xưởng chè tư nhân của người Việt, người Hoa; chè xanh đi ướp hương ở đồng bằng, chè đen xuất khẩu.
- Sau 1975 đến cuối thập niên 1980: nông trường, xí nghiệp chè quốc doanh; chè đen, chè xanh xuất khẩu; đưa giống chè cành năng suất cao vào trồng.
- Thập niên 1990: đầu tư Đài Loan, giống chè ô long và kỹ thuật ô long; hộ gia đình làm chủ vườn chè.
- Thập niên 2010 đến nay: diện tích chè giảm do chuyển sang sầu riêng, cà phê và đô thị hoá; xưởng nhỏ đi theo hướng trà đặc sản.
Ai muốn tìm hiểu kỹ hơn có thể tìm các công trình địa chí của Lâm Đồng, các tài liệu của ngành nông nghiệp tỉnh và ký ức của những người làm chè lâu năm.
Di sản của một thế kỷ trồng chè
Dù diện tích chè giảm, một thế kỷ trồng chè đã để lại dấu ấn sâu trên vùng đất này. Hình ảnh đồi chè xanh với những hàng cây che bóng là nét cảnh quan đặc trưng của Bảo Lộc. Nhiều khu dân cư hình thành quanh các nhà máy chè cũ. Nhiều gia đình có ba thế hệ làm chè, giữ những cách hái, cách sao mà sách vở ít ghi.
Trong văn hoá thường ngày, trà là thứ mời khách đầu tiên, là quà biếu đi xa, là câu chuyện của người lớn tuổi về thời đồn điền, thời nông trường. Với người Bảo Lộc đi làm ăn xa, mùi trà mới sao là mùi của quê.
Giữ được gì từ di sản ấy phụ thuộc vào những người còn làm trà hôm nay, và vào người tiêu dùng có sẵn lòng trả công xứng đáng cho một ấm trà làm cẩn thận hay không. Một người khách hỏi kỹ về giống chè, lứa hái, cách làm khi mua trà đã là một phần của việc giữ nghề.
Câu hỏi thường gặp
Trà Bảo Lộc có từ bao giờ?
Theo các tài liệu địa phương, chè được trồng quy mô lớn ở vùng Bảo Lộc từ thời thuộc Pháp, khoảng thập niên 1920–1930, trong các đồn điền trên cao nguyên B'Lao. Năm cụ thể của từng đồn điền khác nhau giữa các nguồn, nên nên tra thêm tài liệu địa chí khi cần độ chính xác.
Vì sao Bảo Lộc được gọi là thủ phủ chè?
Vì đây từng là vùng tập trung diện tích chè, nhà máy chè lớn nhất của tỉnh Lâm Đồng, mà Lâm Đồng lại là một trong những vùng chè lớn nhất cả nước. Tên Bảo Lộc gắn với trà trong nhận thức của người tiêu dùng miền Nam qua nhiều thập kỷ.
Ô long có phải là trà truyền thống của Bảo Lộc không?
Ô long là loại trà đến Bảo Lộc khá muộn, từ thập niên 1990, cùng giống chè và kỹ thuật của Đài Loan. Trà truyền thống lâu đời hơn của vùng là chè xanh và chè đen. Dù vậy, sau hơn ba mươi năm, ô long đã trở thành một sản phẩm quen thuộc của Bảo Lộc.
Diện tích chè Bảo Lộc giảm có ảnh hưởng chất lượng trà không?
Diện tích giảm không nhất thiết làm chất lượng giảm. Nhiều vườn chè già, năng suất thấp bị thay thế, trong khi các xưởng còn lại có xu hướng làm trà đặc sản kỹ hơn. Tuy nhiên, kiến thức và nhân công làm chè cũng thu hẹp theo.
Có thể tìm hiểu lịch sử nghề trà Bảo Lộc ở đâu?
Có thể bắt đầu từ các sách địa chí Lâm Đồng, tài liệu của ngành nông nghiệp tỉnh, các bài báo địa phương. Nguồn quý nhất là những người làm chè lâu năm, công nhân nông trường cũ; nghe họ kể và ghi lại là cách giữ lịch sử nghề.