BaoLoc.orgBảo Lộc
Trà Bảo Lộc

Cây chè trên đất Bảo Lộc: giống chè, đất đỏ, cây che bóng và một năm chăm vườn

Vì sao chè hợp cao nguyên Bảo Lộc, các nhóm giống chè hạt, chè cành, giống ô long, cây che bóng trên đồi chè, đốn chè, bón phân, tưới mùa khô và bệnh hại thường gặp.

Rows of rounded tea bushes following the contour of a red soil hill, slender shade trees spaced between rows, irrigation pipe on the ground, bright overcast morning

Cây chè hợp với vùng Bảo Lộc vì cao nguyên ở đây có độ cao khoảng tám, chín trăm mét, khí hậu mát, mùa mưa dài, sương nhiều và đất đỏ bazan sâu, chua nhẹ, thoát nước tốt. Trên nền đó, người làm chè trồng các nhóm giống khác nhau: chè hạt cũ, chè cành năng suất cao để làm chè xanh, chè đen, và các giống từ Đài Loan để làm ô long.

Bài này dành cho người muốn hiểu một đồi chè vận hành thế nào: giống gì, vì sao có những hàng cây cao giữa đồi, đốn chè là gì, một năm chăm vườn có những việc gì, bệnh hại nào hay gặp. Đây là kiến thức nền, không thay cho hướng dẫn kỹ thuật của cơ quan khuyến nông.

Điều kiện tự nhiên: vì sao chè sống tốt ở đây

Cây chè có nguồn gốc ở vùng núi cận nhiệt đới, ưa nhiệt độ mát, không chịu được nắng nóng gay gắt kéo dài và không chịu úng. Ở độ cao của Bảo Lộc, nhiệt độ trung bình dịu hơn nhiều so với đồng bằng, chênh lệch ngày đêm lớn, giúp búp chè tích luỹ hương. Sương mù buổi sáng giữ ẩm cho lá.

Đất đỏ bazan của cao nguyên tơi xốp, tầng đất dày, giữ ẩm tốt nhưng thoát nước nhanh, độ chua thích hợp với chè. Địa hình đồi thoải cho phép trồng theo đường đồng mức, hạn chế xói mòn. Lượng mưa lớn trong mùa mưa nuôi búp chè ra liên tục, còn mùa khô thì cây chậm lại, cần tưới nếu muốn có búp.

Những điều kiện này không phải độc quyền của Bảo Lộc; Di Linh, Bảo Lâm, Cầu Đất cũng có. Hương vị trà mỗi vùng khác nhau đôi chút do độ cao, giống, cách chăm và cách chế biến, nhưng nói một vùng trà ngon hơn hẳn vùng kia thì thường là chuyện quảng cáo hơn là sự thật có thể đo.

Các nhóm giống chè ở vùng Bảo Lộc

Nhóm đầu tiên là chè hạt, trồng từ hạt, thường có gốc từ các dòng chè Assam hoặc chè Shan. Cây khoẻ, lá to, rễ sâu, sống lâu, chịu hạn khá, nhưng cây trong cùng vườn không đồng đều vì mỗi cây mọc từ một hạt khác nhau. Chè hạt từng là nguồn nguyên liệu chính cho trà đen thời đồn điền và nhiều năm sau đó.

Nhóm thứ hai là chè cành, nhân giống bằng giâm cành từ những cây mẹ được chọn lọc, nên cả vườn đồng đều về năng suất, kích thước búp. Các giống chè cành phổ biến ở Lâm Đồng được nhắc trong tài liệu khuyến nông gồm một số giống chọn tạo trong nước và giống nhập như TRI777. Chè cành thường dùng làm chè xanh, chè đen trong các nhà máy.

Nhóm thứ ba là các giống chè dùng làm ô long, đưa từ Đài Loan sang từ thập niên 1990: Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Tứ Quý, Ô long Thanh Tâm. Mỗi giống có đặc điểm riêng: Kim Tuyên cho hương sữa nhẹ, Thúy Ngọc hương hoa, Ô long Thanh Tâm lá nhỏ, hương thanh, năng suất thấp hơn; Tứ Quý dễ trồng, cho búp quanh năm. Những mô tả hương vị này là cách người trong nghề hay nói, cảm nhận thực tế tuỳ cách chế biến.

Hàng cây cao giữa đồi chè để làm gì

Người lần đầu nhìn đồi chè Bảo Lộc hay thắc mắc về những hàng cây thân mảnh, tán thưa trồng xen giữa các hàng chè. Đó là cây che bóng, thường là các loại cây họ đậu như muồng, keo dậu, hoặc một số cây khác tuỳ vườn. Chúng giảm bớt nắng gắt giữa trưa trong mùa khô, giữ ẩm cho đất, và lá rụng làm phân xanh. Cây họ đậu còn giúp cố định đạm.

Mức che bóng là chuyện cân nhắc. Che quá nhiều, chè ít búp, dễ bệnh; che quá ít, chè bị cháy lá mùa khô, đất bị nắng chiếu kiệt. Người làm chè thường tỉa cành cây che bóng vào đầu mùa mưa để chè nhận đủ ánh sáng khi ra búp mạnh, và để cây che bóng tán rộng hơn vào mùa khô.

Ngoài cây che bóng, nhiều đồi chè có hàng cây chắn gió ở bìa vườn. Những vườn chè cũ còn giữ hàng cây lớn trông rất đẹp khi có sương, đó cũng là lý do nhiều người chụp ảnh đồi chè vào sáng sớm.

Đốn chè: cắt để cây ra búp mới

Cây chè nếu để tự nhiên sẽ mọc thành cây bụi cao vài mét, búp ít và khó hái. Người làm chè giữ cây ở dạng bụi thấp, tán bằng, gọi là mặt tán, để búp mọc đều và người hái với tới. Việc cắt tỉa định kỳ để giữ hình dáng này gọi là đốn chè.

Trong nghề có mấy mức đốn được nhắc nhiều. Đốn phớt là cắt nhẹ phần ngọn trên mặt tán, làm hằng năm hoặc theo chu kỳ ngắn, để mặt tán bằng và búp ra đều. Đốn lửng là cắt sâu hơn khi cây đã cao và mặt tán kém. Đốn đau là cắt sát gần gốc để cây già tái sinh bộ khung mới, sau đó phải chờ một thời gian cây mới cho thu hoạch lại.

Thời điểm đốn thường rơi vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa, khi cây chuẩn bị bước vào chu kỳ sinh trưởng mạnh. Sau đốn, đồi chè trông xơ xác vài tuần, rồi lớp búp mới phủ xanh. Với người đi chụp ảnh, một đồi chè mới đốn trông khác hẳn đồi chè đang mùa búp, nên không phải lúc nào đồi chè cũng xanh mướt như trong ảnh.

Bón phân, làm cỏ và tưới: ba việc thường ngày

Chè là cây thu hoạch lá, mỗi lứa hái lấy đi một phần dinh dưỡng của cây, nên cần bón phân đều đặn. Người làm chè ở Bảo Lộc thường bón nhiều lần trong mùa mưa, khi cây ra búp mạnh, kết hợp phân hữu cơ, phân chuồng hoai, phân xanh từ cây che bóng và phân vô cơ theo hướng dẫn kỹ thuật. Bón quá nhiều đạm cho búp to, năng suất cao nhưng trà kém hương; đây là chỗ người làm trà đặc sản thường giữ chừng mực.

Cỏ dại mọc nhanh trong mùa mưa trên đất đỏ. Làm cỏ bằng tay, bằng máy cắt cỏ hoặc dùng thuốc diệt cỏ tuỳ vườn. Nhiều vườn hướng tới canh tác bền vững giữ một lớp cỏ thấp hoặc phủ gốc bằng rơm, lá để chống xói mòn trên đồi dốc, thay vì làm sạch trơn đất.

Mùa khô, tưới quyết định chè có búp hay không. Vườn có nguồn nước như hồ, giếng, suối thì tưới phun mưa hoặc tưới gốc; vườn không có nước gần như nghỉ hái vài tháng. Chi phí tưới, điện, nước cũng là một phần lý do nhiều hộ cân nhắc chuyển đổi cây trồng.

Một năm chăm vườn chè (khái quát)

Lịch dưới đây chỉ là khung chung cho vùng Bảo Lộc; từng vườn, từng giống và từng năm thời tiết có thể khác.

Thời gianThời tiếtViệc chính trong vườn
Cuối mùa khô (khoảng tháng 2–4)Khô, nắng, chè ít búpTưới nếu có nước, đốn chè, làm cỏ, chuẩn bị phân
Đầu mùa mưa (khoảng tháng 4–5)Mưa bắt đầuBón phân lứa đầu, tỉa cây che bóng, chè bật búp
Giữa mùa mưa (khoảng tháng 6–9)Mưa nhiều, ẩmHái chè dày lứa, theo dõi bệnh lá, làm rãnh thoát nước
Cuối mùa mưa (khoảng tháng 10–11)Mưa thưa dầnBón phân cuối mùa, hái các lứa cuối, phủ gốc giữ ẩm
Đầu mùa khô (khoảng tháng 12–1)Khô, lạnhBúp chậm, hái thưa, chuẩn bị tưới, dọn vườn

Người làm chè lâu năm thường tính lịch theo thời tiết thật hơn là theo tháng: mưa đầu mùa đến sớm hay muộn quyết định mọi việc tiếp theo.

Sâu bệnh và những nỗi lo của người trồng chè

Bọ xít muỗi. Đây là loại côn trùng được người làm chè nhắc nhiều, chích hút búp non làm búp thâm đen, chè mất giá. Mùa mưa ẩm là lúc chúng gây hại mạnh.

Rầy xanh, bọ trĩ. Làm búp xoăn, lá vàng mép. Điều thú vị là với một số loại ô long kiểu Đài Loan, búp bị rầy chích nhẹ lại tạo nên hương mật đặc trưng, nên có người làm trà cố tình không phun thuốc trong một số lứa. Đây là kỹ thuật đặc thù, không phải lời khuyên chung.

Bệnh lá trong mùa mưa. Các bệnh do nấm như phồng lá, đốm lá dễ phát sinh khi mưa dầm, ẩm độ cao. Vườn thông thoáng, cây che bóng vừa phải giúp giảm bệnh.

Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Đây là mối lo của người tiêu dùng. Người làm chè có trách nhiệm tuân thủ thời gian cách ly sau khi phun; người mua nên chọn nơi minh bạch về cách canh tác, có kết quả kiểm nghiệm khi mua số lượng lớn.

Vườn chè và chuyện chuyển đổi cây trồng

Khi giá sầu riêng, cà phê lên cao, nhiều chủ vườn chè ở Bảo Lộc cân nhắc nhổ chè. Chè cho thu hoạch đều đặn quanh năm nhưng giá trị thấp, cần nhiều công hái; sầu riêng cho giá trị cao hơn nhiều nhưng rủi ro về giá, về bệnh, về vốn đầu tư ban đầu. Một số hộ trồng xen, giữ chè trong lúc chờ sầu riêng cho trái.

Những vườn chè còn lại thường là của các hộ có xưởng chế biến riêng, các nhà máy còn hoạt động, hoặc các hộ có giống chè tốt làm ô long, chè đặc sản. Họ chọn làm chè theo hướng ít mà chất lượng, bán với giá cao hơn búp thường.

Nếu bạn đang tính mua đất có vườn chè ở Bảo Lộc, hãy hỏi kỹ tuổi vườn, giống chè, lần đốn đau gần nhất, năng suất mấy năm qua, ai đang thu mua búp. Một vườn chè già chưa đốn tái sinh có giá trị khác hẳn vườn chè cành đang sung sức.

Đọc một đồi chè khi đi ngang qua

Khi đi qua những đồi chè ở Bảo Lộc, bạn có thể tự đoán được vài điều. Hàng chè bằng phẳng tắp như được xén là vườn hái máy; hàng chè mặt tán hơi lượn sóng, có búp nhô lên lác đác thường là vườn hái tay. Cây chè thấp, lá nhỏ, mọc dày là các giống ô long; cây cao hơn, lá to, thân gốc lớn thường là chè hạt hay chè cành lâu năm.

Vườn có nhiều cây che bóng cao, lá rụng phủ gốc thường là vườn cũ được chăm theo lối truyền thống. Vườn trống trải, có ống tưới chạy dọc hàng là vườn đầu tư tưới mùa khô. Vườn có cây sầu riêng con trồng xen giữa các hàng chè là vườn đang trong giai đoạn chuyển đổi.

Những quan sát này không thay được việc hỏi chủ vườn, nhưng giúp chuyến đi qua vùng chè thú vị hơn, và giúp bạn đặt câu hỏi đúng khi ghé một xưởng trà.

Câu hỏi thường gặp

Chè ở Bảo Lộc hái được mấy lứa một năm?

Tuỳ giống, cách chăm và thời tiết. Trong mùa mưa chè ra búp liên tục, khoảng cách giữa các lứa hái thường từ vài tuần đến hơn một tháng. Mùa khô búp chậm, ít lứa hơn nếu không tưới. Không có con số chung cho mọi vườn.

Chè hạt và chè cành khác nhau thế nào khi uống?

Khác biệt chủ yếu nằm ở nguyên liệu và cách chế biến hơn là cách nhân giống. Chè hạt lâu năm thường được dùng làm trà đen, chè xanh có vị đậm. Chè cành đồng đều, dễ kiểm soát chất lượng. Người uống khó phân biệt nếu không biết rõ nguồn gốc.

Vì sao đồi chè có lúc trông xơ xác?

Có thể vườn vừa được đốn, vừa hái xong một lứa lớn, hoặc đang mùa khô thiếu nước. Sau đốn hoặc khi có mưa, chè sẽ ra búp mới và xanh trở lại sau vài tuần. Đồi chè xanh mướt trong ảnh thường được chụp giữa mùa mưa.

Giống Tứ Quý có phải ô long tốt nhất không?

Không có giống tốt nhất cho mọi người. Tứ Quý dễ trồng, cho búp quanh năm, hương vị dễ uống. Kim Tuyên, Thúy Ngọc, Ô long Thanh Tâm có đặc điểm hương riêng. Chất lượng ấm trà phụ thuộc nhiều vào cách hái và chế biến hơn là tên giống.

Muốn trồng chè ở Bảo Lộc thì hỏi kỹ thuật ở đâu?

Có thể hỏi cơ quan khuyến nông của tỉnh, các trạm, trung tâm nghiên cứu nông nghiệp trong vùng và những hộ làm chè lâu năm. Trước khi đầu tư, nên tìm hiểu đầu ra búp tươi hoặc khả năng tự chế biến, vì đây là chỗ quyết định lời lỗ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.